Theo chỉ đạo của Bộ trưởng Bộ GTVT, Ban soạn thảo Luật GTĐB (sửa đổi) đã bỏ quy định bă’t buộc người điều khiển xe đạp điện, xe máy điện phải có bằng lái hạng A0 khỏi dự thảo lần 2.

Theo dự thảo Luật GTĐB sửa đổi, người từ 16 tuổi trở lên đến dưới 18 tuổi phải có GPLX hạng A1 mới được điều khiển xe máy điện, xe gắn máy có dung tích dưới 50cc – Ảnh minh họa

Trao đổi với báo Giao thông vào chiều 8/7, ông Lương Duyên Thống, Vụ trưởng Vụ Quản lý phương tiện và người lái (Tổng cục Đường bộ VN) cho biết, tiếp thu ý kiến đóng góp của các chuyên gia và người dân và theo chỉ đạo của Bộ trưởng Nguyễn Văn Thể, Ban biên soạn thảo dự thảo Luật GTĐB (sửa đổi) đang nghiên cứu điều chỉnh theo hướng cấp GPLX hạng A1 cho người từ 16 tuổi trở lên đến dưới 18 tuổi.

Tuy nhiên, ông Thống cho biết, những người từ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi chỉ được điều khiển xe máy điện không vượt quá 4kW, xe gắn máy có dung tích xy lanh dưới 50cm3. Đây là điểm thay đổi so với dự thảo trước đây khi những người này cần có GPLX hạng A0.

Từ 18 tuổi trở lên, những người đã được cấp GPLX hạng A1 cũng sẽ được điều khiển loại xe khác theo quy định cho GPLX hạng bằng lái A1 (xe máy có dung tích xy lanh đến 125cc).

“Nội dung sửa đổi này vừa đảm bảo mục tiêu nâng cao ATGT cho học sinh phổ thông chưa đủ 18 tuổi, vừa đáp ứng yêu cầu của người dân trong việc cắt giảm điều kiện, thủ tục hành chính”, ông Lương Duyên Thống nói.

Ông Lương Duyên Thống cho biết thêm, việc điều chỉnh phân lại hạng GPLX là yêu cầu bă’t buộc để thực hiện cam kết của Chính phủ Việt Nam khi tham gia Công ước Viên về giao thông đường bộ năm 2015. Việc phân hạng cũng phù hợp với chuẩn quốc tế, tạo điều kiện sử dụng GPLX của Việt Nam ở nước ngoài.

Cụ thể, Công ước Viên và thông tư cấp GPLX quốc tế được thực hiện từ năm 2015 của Bộ GTVT hiện nay quy định có 13 hạng GPLX là A1, A, B1, B, C1, C, D1, D, BE, C1E, CE, D1E, DE.

Dự thảo Luật GTĐB (sửa đổi) mới nhất giảm 2 hạng GPLX (hạng C1 và C1E), tăng 4 hạng GPLX đó là: Hạng A2 dùng để cấp mới và cấp đổi cho người có GPLX hạng A1 (hiện nay) bị hỏng hoặc m.ấ.t; Hạng B2 dùng để cấp mới và đổi cho người có GPLX hạng B1 số tự động (hiện nay); Hạng D2 dùng để cấp mới và đổi cho người có GPLX hạng D (hiện nay). Hạng D2E dùng để cấp mới và đổi cho người có GPLX hạng FD (hiện nay).

Cũng theo đại diện Ban soạn thảo, sau khi Luật GTĐB sửa đổi có hiệu lực, những người đã có GPLX thì vẫn giữ nguyên giá trị theo thời hạn ghi trên GPLX, không cần thiết đi đổi sang GPLX mới nếu không có nhu cầu. Ví dụ, người có GPLX hạng A1 hiện nay vẫn được điều khiển xe máy đến 175 cm3 hay GPLX hạng B1 vẫn được điều khiển xe con đến 9 chỗ.

Với các GPLX hạng A1, A2, A3 hiện nay vẫn áp dụng không thời hạn. Còn GPLX B1 có thời hạn đến khi người lái xe đủ 60 tuổi đối với nam và 55 tuổi đối với nữ; sau đó, khi GPLX hết hạn, người lái xe sẽ phải đi đổi để được cấp GPLX hạng B2 hoặc hạng B.

Việc cấp GPLX theo các hạng mới sẽ áp dụng với những người có GPLX ôtô khi hết hạn cần đi đổi hoặc cấp mới.

Luật mới: Sẽ bị tịch thu xe vĩnh viễn nếu mắc những lỗi này?

Tịch thu phương tiện vi phạm hành chính là việc sung vào ngân sách nhà nước phương tiện có liên quan trực tiếp đến vi phạm hành chính, được áp dụng đối với vi phạm hành chính n.g.h.i.ê.m t.r.ọ.n.g.

Theo quy định tại Nghị định 100/2019/NĐ-CP thì tổ chức, cá nhân thực hiện một trong các hành vi vi phạm giao thông đường bộ sau đây sẽ bị tịch thu phương tiện sung vào ngân sách nhà nước.

1. Đối với người điều khiển phương tiện

Ôtô và các loại xe tương tự xe ôtô

Nghị định 100/2019/NĐ-CP quy định, sẽ bị tịch thu đối với người điều khiển phương tiện khi: Điều khiển xe quá niên hạn sử dụng tham gia giao thông đối với loại xe có quy định về niên hạn sử dụng (trừ trường hợp xe ôtô từ 10 chỗ ngồi trở lên kinh doanh vận tải hành khách có niên hạn sử dụng vượt quá quy định về điều kiện kinh doanh của hình thức kinh doanh đã đăng ký nhưng chưa quá 20 năm tính từ năm sản xuất, xe ôtô dưới 10 chỗ ngồi kinh doanh vận tải hành khách), căn cứ tịch thu phương tiện theo Điểm b Khoản 5 và Điểm d Khoản 6 Điều 16 Nghị định 100. Điều khiển loại xe sản xuất, lắp ráp trái quy định tham gia giao thông (bao gồm cả xe công nông thuộc diện bị đ.ì.n.h c.h.ỉ tham gia giao thông); tịch thu phương tiện theo Điểm c Khoản 5 và Điểm d Khoản 6 Điều 16 Nghị định 100.

Tịch thu phương tiện vi phạm hành chính là việc sung vào ngân sách nhà nước phương tiện có liên quan trực tiếp đến vi phạm hành chính

Điều khiển xe thuộc một trong các trường hợp sau đây tham gia giao thông mà không chứng minh được nguồn gốc xuất xứ của phương tiện (không có giấy tờ, chứng từ chuyển quyền sở hữu xe hoặc giấy tờ, chứng từ nguồn gốc xe hợp pha’p): Không có Giấy đăng ký xe theo quy định; Sử dụng Giấy đăng ký xe không do cơ quan có thẩm quyền cấp; Sử dụng Giấy đăng ký xe không đúng số khung, số máy của xe; theo Điểm a Khoản 4, Điểm đ Khoản 5 và Điểm đ Khoản 6 Nghị định 100.

Đua ôtô trái phép, căn cứ tịch thu phương tiện theo Khoản 3 và Điểm b Khoản 4 Điều 34 Nghị định 100.

Mô tô, xe gắn máy và các loại xe tương tự xe mô tô

Tái phạm hoặc vi phạm nhiều lần hành vi: Buông cả hai tay khi đang điều khiển xe; dùng chân điều khiển xe; ngồi về một bên điều khiển xe; nằm trên yên xe điều khiển xe; thay người điều khiển khi xe đang chạy; quay người về phía sau để điều khiển xe hoặc bịt mắt điều khiển xe. Điều khiển xe lạng lách hoặc ḋāпĥ võng trên đường bộ trong, ngoài đô thị; Điều khiển xe chạy bằng một bánh đối với xe hai bánh, chạy bằng hai bánh đối với xe ba bánh; Điều khiển xe thành nhóm từ 02 xe trở lên chạy quá tốc độ quy định, căn cứ theo Điểm a, Điểm b, Điểm c, Điểm d Khoản 8 và Điểm c Khoản 10 Nghị định 100.

Điều khiển loại xe sản xuất, lắp ráp trái quy định tham gia giao thông; căn cứ theo Điểm b Khoản 3 và Điểm d Khoản 4 Điều 17 Nghị định 100.

Điều khiển xe thuộc một trong các trường hợp sau đây tham gia giao thông mà không chứng minh được nguồn gốc xuất xứ của phương tiện (không có giấy tờ, chứng từ chuyển quyền sở hữu xe hoặc giấy tờ, chứng từ nguồn gốc xe hợp pha’p): Không có Giấy đăng ký xe theo quy định; Sử dụng Giấy đăng ký xe không do cơ quan có thẩm quyền cấp; Sử dụng Giấy đăng ký xe không đúng số khung, số máy của xe, căn cứ theo Điểm a, Điểm b Khoản 2 và Điểm đ Khoản 4 Điều 17 Nghị định 100.

Đua xe mô tô, xe gắn máy, xe máy điện trái phép, căn cứ Khoản 2 và Điểm b Khoản 4 Điều 34 Nghị định 100.

Xe đạp, xe đạp máy (kể cả xe đạp điện), xe thô sơ khác
Tái phạm hoặc vi phạm nhiều lần hành vi: Điều khiển xe lạng lách, ḋāпĥ võng; đuổi nhau trên đường; Đi xe bằng một bánh đối với xe đạp, xe đạp máy; đi xe bằng hai bánh đối với xe xích lô, căn cứ theo Điểm a, Điểm b Khoản 3 và Khoản 5 Điều 8 Nghị định 100.

Đua xe đạp, đua xe đạp máy, đua xe xích lô, đua xe súc vật kéo, cưỡi súc vật chạy đua trái phép trên đường giao thông, căn cứ theo Điểm b Khoản 1 và Điểm a Khoản 4 Điều 34 Nghị định 100. Lưu ý: Chỉ tịch thu phương tiện, không tịch thu súc vật kéo, cưỡi.

Máy kéo (kể cả rơ moóc được kéo theo), xe máy chuyên dùng

Điều khiển xe thuộc một trong các trường hợp sau đây tham gia giao thông mà không chứng minh được nguồn gốc xuất xứ của phương tiện (không có giấy tờ, chứng từ chuyển quyền sở hữu xe hoặc giấy tờ, chứng từ nguồn gốc xe hợp pha’p): Không có Giấy đăng ký xe theo quy định; Sử dụng Giấy đăng ký xe không do cơ quan có thẩm quyền cấp; Sử dụng Giấy đăng ký xe không đúng số khung, số máy của xe, căn cứ Điểm d, Điểm e Khoản 2 và Điểm d Khoản 3 Điều 19 Nghị định 100.

Điều khiển máy kéo, xe máy chuyên dùng sản xuất, lắp ráp hoặc cải tạo trái quy định tham gia giao thông, căn cứ Điểm b Khoản 2 và Điểm a Khoản 3 Điều 19 Nghị định 100.

2. Đối với chủ phương tiện

Mô tô, xe gắn máy và các loại xe tương tự xe mô tô
Khi chủ phương tiện tự ý cắt, hàn, đục lại số khung, số máy; đưa phương tiện đã bị cắt, hàn, đục lại số khung, số máy trái quy định tham gia giao thông sẽ bị tịch thu phương tiện, căn cứ vào Điểm a Khoản 5 và Điểm b Khoản 14 Điều 30 Nghị định 100.

Đưa phương tiện thuộc một trong các trường hợp sau đây tham gia giao thông mà không chứng minh được nguồn gốc xuất xứ của phương tiện (không có giấy tờ, chứng từ chuyển quyền sở hữu xe hoặc giấy tờ, chứng từ nguồn gốc xe hợp pha’p): Không có Giấy đăng ký xe; Có Giấy đăng ký xe nhưng không do cơ quan có thẩm quyền cấp; Có Giấy đăng ký xe nhưng không đúng với số khung số máy của xe, căn cứ vào Điểm g, Điểm h Khoản 5 và Điểm c Khoản 14 Điều 30 Nghị định 100.

Ô tô, máy kéo, xe máy chuyên dùng

Khi chủ phương tiện tự ý cắt, hàn, đục lại số khung, số máy; đưa phương tiện đã bị cắt, hàn, đục lại số khung, số máy trái quy định tham gia giao thông, sẽ bị tịch thu xe căn cứ Điểm a Khoản 7 và Điểm b Khoản 14 Điều 30 Nghị định 100.

Đưa phương tiện quá niên hạn sử dụng tham gia giao thông, trừ hành vi vi phạm quy định tại điểm i khoản 6 Điều 28 Nghị định 100, căn cứ theo Điểm đ Khoản 8 và Điểm b Khoản 14 Điều 30 Nghị định 100.

Đưa phương tiện thuộc một trong các trường hợp sau đây tham gia giao thông mà không chứng minh được nguồn gốc xuất xứ của phương tiện (không có giấy tờ, chứng từ chuyển quyền sở hữu xe hoặc giấy tờ, chứng từ nguồn gốc xe hợp pha’p): Không có Giấy đăng ký xe; Có Giấy đăng ký xe nhưng không do cơ quan có thẩm quyền cấp; Có Giấy đăng ký xe nhưng không đúng với số khung số máy của xe, căn cứ Điểm m Khoản 7, Điểm e Khoản 8 và Điểm c Khoản 14 Điều 30 Nghị định 100.

Cải tạo các xe ôtô khác thành xe ôtô chở khách, tịch thu xe theo Điểm b Khoản 9 và Điểm b Khoản 14 Điều 30 Nghị định 100.

Ngoài ra, đối với các tổ chức kinh doanh vận tải, dịch vụ hỗ trợ vận tải sẽ bị tịch thu xe khi sử dụng phương tiện kinh doanh vận tải có chất lượng, niên hạn sử dụng không bảo đảm điều kiện của hình thức kinh doanh đã đăng ký (trừ trường hợp xe ôtô từ 10 chỗ ngồi trở lên kinh doanh vận tải hành khách có niên hạn sử dụng vượt quá quy định về điều kiện kinh doanh của hình thức kinh doanh đã đăng ký nhưng chưa quá 20 năm tính từ năm sản xuất, xe ôtô dưới 10 chỗ ngồi kinh doanh vận tải hành khách), căn cứ tịch thu phương tiện theo Điểm i Khoản 6 và Điểm đ Khoản 10 Điều 28 Nghị định 100.

nguồn h tt p s : / / b e t a . d an tr i . c o m . v n/ o-to-xe-may/chinh-thuc-bo-de-xuat-giay-phep-lai-xe-hang-a-0-20200709061724209.htm